Một bức tranh thủy mặc xinh xắn giữa “khúc độc hành Tây Tiến”

Đăng lúc: Thứ hai - 04/04/2011 14:59
“Tây Tiến” là một bài thơ hay nhưng có số phận đa đoan, cũng đa đoan như chính chủ thể sáng tạo ra nó. Từ ngày cải cách giáo dục lần thứ nhất đến giờ, thi phẩm đã được trả lại đúng vị trí của nó trong đời sống thơ ca, văn học nước nhà cũng như trong SGK Ngữ Văn bậc THPT.

Lời bạt: “Tây Tiến” là một bài thơ hay nhưng có số phận đa đoan, cũng đa đoan như chính chủ thể sáng tạo ra nó. Từ ngày cải cách giáo dục lần thứ nhất đến giờ, thi phẩm đã được trả lại đúng vị trí của nó trong đời sống thơ ca, văn học nước nhà cũng như trong SGK Ngữ Văn bậc THPT. Tuy nhiên, với một tác phẩm khá nổi tiếng, lại rất quen mặt, thậm chí có thể nói là khá kinh điển nhưng để tiếp nhận nó, cảm nó một cách sâu sắc, tinh tế như chính vẻ đẹp của bản thể nó lại không dễ một chút nào. Từ những kinh nghiệm của bản thân, từ những băn khoăn, khúc mắc của học sinh khi tiếp nhận tác phẩm, đặc biệt qua những bài làm quá “thất vọng” của học sinh trong kỳ thi khảo sát vừa qua, tôi xin được góp vài lời bình nhỏ cho một đoạn thơ nhỏ nhưng lại kết tụ những tinh túy nghệ thuật đặc sắc của “Khúc độc hành Tây Tiến”. Đây là những rung động rất cá thể của một giáo viên dạy văn, rất cảm “Tây Tiến”, xem như “Lời quê chắp nhặt dông dài”(Chữ mượn cụ Nguyễn Du), đem một chút hồn ta để cảm hồn người thiên cổ trong một thi phẩm cổ điển.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

Mỗi lần đọc “Tây Tiến” của Quang Dũng, cái âm vang của khúc độc hành từ mùa xuân ấy vẫn còn vọng mãi “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Và mỗi lần ấy, tâm hồn tôi như được bồng bềnh trôi theo dòng hoài niệm về miền ký ức của Quang Dũng, cùng hành quân với Tây Tiến, cùng trải nghiệm qua Tây Bắc đại ngàn oai linh rừng thẳm, xa ngái, mịt mùng. Và để cảm nhận bốn câu thơ trên đây, cần đặt nó trong chỉnh thể mạch cảm xúc của thi phẩm. Đoạn thơ xinh xắn gồm bốn câu như một lát cắt trong dòng nhớ mênh mang, “chơi vơi” của con người đã xa một thời Tây Tiến, cái con người đang ngồi ở Phù Lưu Chanh để vời vợi ngưỡng vọng về một quãng đời đã xa, những địa danh đã xa, những con người đã xa mà ân tình, cảm xúc lại mới nguyên, thắm thiết. Có đặt đoạn, bài thơ trong hoàn cảnh sáng tác, trong những ẩn ức sâu xa của hồn thơ Quang Dũng ta mới thấm được cái tình mênh mang, những cảnh ấn tượng được chuyên chở qua bút pháp lãng mạn, qua cái nhìn tế vi, rung động chân thành của thi nhân.

Tây tiến (ảnh minh hoạ)

Tây Tiến (ảnh minh hoạ)

            Theo suốt dọc hành trình trở về Tây Tiến bằng hoài niệm của Quang Dũng, ta được tắm mình sống với bao kỷ niệm cùng thi nhân. Những cuộc hành quân gian lao như vắt kiệt sức con người qua miền Tây Bắc hoang vu, hùng vĩ, hiểm trở của “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, của “sương lấp đoàn quân mỏi”, của “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Và trước mắt người lính Tây Tiến là “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”. Nguy hiểm, độc dữ, rùng rợn, thiên nhiên Tây Bắc như giăng bao hiểm nguy, luôn rình rập đe dọa mạng sống của con người. Song vượt lên trên tất cả vẫn là tâm hồn người lính quả cảm, kiên cường, kiêu dũng, hào hoa và lãng mạn. Họ quên hiểm nguy, bỏ lại sau lưng những nhọc nhằn, những hy sinh mất mất để sống hết mình, cháy hết lòng - “toàn tâm, toàn ý, toàn hồn” (chữ dùng của Xuân Diệu) cùng đêm liên hoan rực rỡ, thắm tình quân dân. Ánh sáng, âm nhạc, vũ điệu khiến những chàng lính Hà thành bốc men say ngây ngất, ngả nghiêng theo man điệu, theo tiếng khèn về “Viên Chăn xây hồn thơ”. Cái giây phút tưng bừng, hân hoan ấy như khoảng lắng, nốt trầm trong khúc độc hành “Tây Tiến”, như trạm dừng chân trên chặng đường hành quân xa mờ giữa Tây Bắc hoang sơ, hung bạo. Để rồi, khoảng lắng ấy lại ngân lên những nốt kéo dài trên hành trình Tây Tiến vô tận, và người lính một lần nữa rời xa, một lẫn nữa làm một cuộc ly biệt (có khi chỉ là ly biệt với chính lòng mình):

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy”

            Câu thơ được viết theo lối thơ cổ điển với bút pháp gợi tả đầy ấn tượng. Hình ảnh “người đi Châu Mộc” vang lên cái dư ba lưu luyến của một cuộc biệt ly, giã từ. Và hình ảnh này là nhãn quan chi phối cái nhìn, cách cảm không gian, thời gian và con người trong toàn đoạn thơ. Tất cả nhuốn một nỗi buồn man mác của tình ly biệt, của một chút vương vấn lòng, một chút hoài thương, hoài nhớ, hoài vọng. Bởi tất cả hiện tại anh sắp bỏ lại sau lưng, tất cả sắp thành quá khứ để đóng lại trong ký ức, làm nên kỷ niệm. Và cái phông nền tương hợp để chở cảm quan đó phải là “chiều sương”. Sương mù Tây Bắc có lẽ đã được Quang Dũng đặc tả đậm đà trong “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” rồi cho nên đến đây nó chỉ là chiều sương bảng lảng, giăng giăng. Hình ảnh “chiều sương ấy” vừa tả không gian, vừa gợi thời gian. Đã chia tay lại vào buổi chiều, mà không phải buổi chiều thường mà lại là “chiều sương”. Tất cả tạo nên một nét vẽ rất nhạt, rất nhòe mà rất đọng, rất thấm. Buổi chiều vốn gợi cảm xúc buồn cộng hưởng với không khí biệt ly khiến cái buồn ấy toản lan, giăng thành như sương khói khắp không gian. Cho nên mới nói, chiều sương không chỉ là sương khói thiên nhiên mà nó còn là màn sương của kỷ niệm, của nội tâm, cảm xúc. Dưới cái nhìn nhòe nhạt ấy, không gian dòng sông hiện lên thêm mộng, thêm mơ, thêm trữ tình xiết bao. Nó mang nét hư thực của cảnh trong kỷ niệm nên được chắt lọc tinh tế, huyền diễm đến diệu kỳ. Chữ “ấy” đặt ở cuối câu thơ vút lên với thanh trắc như cất cao tâm hồn bay bổng, cảm xúc thăng hoa, kỷ niệm ăm ắp, ngợp hồn. Cái hồn người như thẩm thấu, đẫm đìa mỗi cảnh vật, mỗi dáng người:

    “Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc”                   

            Hai câu thơ, hai nét vẽ hài hòa cân xứng – một nét cảnh, một dáng người – đã nảy được cái hồn của bức tranh sông nước Tây Bắc buổi chiều sương biệt ly. Hơn ở đâu hết, những câu thơ này là minh chứng đậm sắc nhất của “Thi trung hữu họa”. Những hình ảnh thơ đã gợi lên vẻ đẹp tiêu sơ, tinh vi, gợi cảm, hữu tình của một bức tranh thủy mặc. Những “Hồn lau nẻo bến bờ” như khắc trong lòng người Tây Tiến ra đi cái hoang vu, đìu hiu, lặng tờ, tịnh mịch riêng của sông nước miền Tây. Hồn lau ấy phơ phất trong chiều sương phác ra không gian huyền sử, không gian của miền cổ tích tuổi xưa. Cái lặng tờ ấy như điệu hồn riêng của dòng sông qua ngàn đời vẫn thế. Cảm hình ảnh thơ này, tôi chợt nhớ tới cái không khí hoang vu trong bài “Lau biên giới” của Chế Lan Viên:

“Anh lên biên giới cho ta theo với

Trắng ngàn lau chỉ trắng có một mình

Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi

Suốt một đời cùng với gió giao tranh”

            Cũng từ sức gợi của hình ảnh thơ, lòng ta bỗng rung động theo cái nhìn tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân khi viết về bờ Sông Đà: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử; bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” (“Người lái đò Sông Đà”). Sự đồng điệu của những khung cảnh Tây Bắc trong những phong cách độc đáo riêng ấy phải chăng được bắt nguồn từ chính sự đồng cảm của những tấm lòng, của những tình yêu mà bao nhà văn dành cho mảnh đất miền Tây Tổ quốc thân yêu?!

            Tuy nhiên, trong đoạn thơ nói riêng và trong toàn thi phẩm “Tây Tiến” nói chung, nét tài hoa, lịch lãm của Quang Dũng được thể hiện sâu sắc nhất là trong cách dùng từ sáng tạo, mới mẻ, giàu sức gợi. “Hồn lau” ở câu thơ này cũng vậy. Nó là gì nếu không phải là linh hồn của đất trời Tây Bắc kết tụ trong ngàn lau ven sông?! Nhưng phải chăng những cây lau kia cũng mang một phần tâm hồn sâu thẳm của người lính Tây Tiến gửi lại nơi đây?! Bởi mỗi mảnh đất anh qua đều thấm đẫm kỷ niệm, nghĩa tình; mỗi nơi anh bỏ lại đều là một quãng đời anh ký thác, như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” (“Tiếng hát con tàu”). Cái tài, cái khéo, cái tinh của Quang Dũng chính là ở chỗ này. Hồn cảnh, hồn người hòa vào làm một khiến ý thơ miên man cảnh, thấm đẫm tình. Mỗi cây lau ở bến bờ như mang tâm hồn xao xuyến, nao nao khó tả của người lính khi phải tạ từ, giã bạn. Và trong cái ngoái đầu nhìn lại rưng rưng kia của người lính, nhữn bông lau phơ phất đượm hồn ngàn xưa như những chiếc khăn vẫy chào tiễn biệt đoàn binh của núi rừng Tây Bắc. Cái màu sắc chia ly đổ tràn lên ý thơ, lên cả dáng hình người chèo độc mộc:

“Có nhớ dáng người trên độc mộc”                          

            Ở câu thơ này, nhà thơ không chỉ sử dụng những nét vẽ của mực nước cho tranh thủy mặc mà ông còn sử dụng cả thủ pháp của nhiếp ảnh. Quang Dũng như “chớp” được khoảnh khắc “đắt giá” nhất của cái đẹp thơ mộng sông nước Tây Bắc. “Dáng người trên độc mộc” vừa gợi nét khỏe khoắn, mạnh mẽ, vừa tả được chuyển động nhịp nhàng, uyển chuyển, mềm mại. Chúng ta không nên quy kết đây là dáng hình thiếu nữ Tây Bắc hay dáng hình người lính Tây Tiến chèo thuyền. Mọi sự quy kết như vậy sẽ làm hẹp tứ thơ, làm mất đi vẻ đẹp của sức gợi trong hình tượng nghệ thuật. Mặt khác, ngôn từ văn bản cũng không hé lộ một chút cụ thể nào về dáng người ấy cả. Xét từ cấu trúc câu, đoạn và ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, ta thấy đây là một nét vẽ rất rõ, một điểm nhấn tạo hình cho bức tranh thủy mặc về sông nước Tây Bắc Trữ tình, mộng mơ, lãng mạn. Con người hòa trên nền cảnh thiên nhiên nhòe ảo tạo nên bức tranh hài hòa, hữu tình, hữu ý. Cái mạnh mẽ, cứng cáp và cái mảnh mai, mềm mại; cái hoang sơ và cái trữ tình duyên dáng; thiên nhiên và con người như hòa lại, đan quyện với nhau làm nên một chỉnh thể nghệ thuật hoàn mỹ.

Đặc biệt hơn, hai câu thơ sử dụng nghệ thuật điệp cấu trúc cú pháp: “Có nhớ…”, “Có thấy…” của những câu hỏi tu từ như một lời tự vấn, tự khơi gợi từ đáy lòng sâu thẳm những tình cảm, những ký ức xa xăm sống dậy. Mỗi hình ảnh, mỗi nét cảnh, dáng người đang cồn cào trôi về theo dòng nước, như đóng đanh vào lòng, như khắc, như chạm trong tim. Và từ đó, cõi lòng mở rộng, con tim rung lên bao sợi dây cảm xúc với những vẻ đẹp mong manh, mơ hồ nhất:

“Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”                                    

            Đây là những nét vẽ cuối cùng để hoàn thiện bức tranh thủy mặc đơn sơ mà đẫm tình. Hai nét vẽ chia bức tranh thành hai mảng đối lập – đối lập mà lại hòa điệu – dòng nước lũ / hoa đong đưa – một hũng vĩ, dữ dằn, bạo liệt/ một xinh đẹp, mềm mại, mong manh. Quả là Quang Dũng đã đi đến tận cùng của bến bờ lãng mạn để “chơi ngông” cùng ngôn từ, hình ảnh. Sau này ta sẽ thấy thủ pháp tương phản này đậm đặc hơn trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân khi thể hiện vẻ đẹp và nội tâm sục sôi của Đà Giang. Song đặt cái đẹp mềm mại, nhỏ bé, có phần mong manh của bông hoa trôi trên nền cuộn xoáy, hùng tráng, dữ dội của dòng nước lũ, nhà thơ đã thâu tóm được hồn cốt của thiên nhiên Tây Bắc lên ý thơ. Hình ảnh thơ này là sự nối tiếp mạch cảm xúc và mạch lô-gic hình tượng ở những đoạn thơ trước đó. Dĩ nhiên ở đây, nét trữ tình, lãng mạn và chất thơ của cảnh vật được tô đậm nhưng cái hoang sơ, man dại, độc dữ của nó cũng vẫn còn nguyên vẹn. Hai đối cực nhưng một tính cách, tạo nên bản thể riêng của thiên nhiên Tây Bắc. Từ láy “đong đưa” cuối câu thơ khiến câu thơ mềm hẳn đi, dịu dàng như khúc nhạc chiều du dương mang cái duyên, cái tình Tây Bắc vương vấn mãi trong hồn người đi.

            Không hiểu sao khi đọc đến câu kết này, tôi luôn hình dung ra dáng hình người lính Tây Tiến trên chiếc thuyền độc mộc trôi theo dòng nước lũ, thả hồn phiêu du cùng cánh hoa bồng bềnh. Có lẽ do âm hưởng bằng lặng, êm trôi, mênh mang của những thanh bằng được sử dụng với tần số cao trong đoạn thơ. Những thanh bằng đó không chỉ đem đến tính nhạc cho đoạn thơ, mà nó còn bật lên chất nhạc trong tâm hồn người lính Tây Tiến. Con mắt các anh quan sát tinh tế họa hình, tạo dáng cho tranh; tâm hồn rung động, tấu lên khúc nhạc lòng của tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cái đẹp. Sự bằng lặng ấy đem lại cái nhìn tĩnh tâm, mơ màng, phiêu diêu riêng cho đoạn thơ. Cảnh cũng mơ và người cũng mơ! Dường như thế giới của sự mơ màng, lãng mạn ấy được nối dài từ truyền thống của Thơ Mới:

“Em không nghe mùa thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô”

                        (“Tiếng thu” – Lưu Trọng Lư)

Cái nhìn tế vi, tâm hồn hào hoa, đa tình, lãng mạn của Quang Dũng đã để lại một “Tây Tiến” đẹp toàn thiện cho hậu thế.

Yêu đất, yêu người, nhớ thiên nhiên, nhớ đồng đội, hoài niệm về một thời đã xa… là cả khối tình mênh mang đang lan tỏa trong lòng nhà thơ Xứ Đoài tài hoa, mơ mộng. Nhớ, thương, hồi ức là khắc ghi, là tạc lòng tạc dạ. Cho nên “Tây Tiến” không chỉ là khúc độc hành cùng sông núi mà nó còn là lời thể thủy chung của Quang Dũng với đồng đội, với Tây Bắc và với chính bản thân. Nhà phê bình Nga Biêlinxki đã phát biểu rất hay: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau thơ mới là nghệ thuật”. Đọc và cảm một đoạn nhỏ trong chỉnh thể bài thơ “Tây Tiến” mỗi chúng ta càng tự ngấm, tự thấm chân lý nghệ thuật trên. Bởi “Tây Tiến” được chưng cất từ cuộc đời, từ những ngày tháng gián khổ, hào hùng mà đẹp đẽ, lãng mạn, từ những rung động thật thà nhất nơi con tim nhà thơ và trào dâng qua thứ ngôn từ điêu luyện, hình ảnh gợi cảm. Quang Dũng đã tinh luyện từ hàng vạn tấn quặng ngôn từ để hoàn thai 34 câu thơ “Tây Tiến” hoàn mỹ như một viên kim cương tinh xảo. Đúng như nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Ba mươi tư câu không một câu nào non nớt, bằng phẳng; trái lại, câu nào cũng có nội lực riêng, tạo nên khí vị chung cho bài thơ, một khí vị bi hùng, hoang dã và quả cảm”.

Tác giả bài viết: Thầy Ngô Thanh Hải
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Mới nhất


Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vì sức khoẻ cộng đồng

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vì sức khoẻ cộng đồng

Thống kê

  • Đang truy cập: 0
  • Hôm nay: 7117
  • Tháng hiện tại: 185180
  • Tổng lượt truy cập: 9925177
Facebook Messenger