DẠY HỌC VĂN SÁNG TẠO

Đăng lúc: Thứ sáu - 08/11/2019 19:18

Trong đổi mới giáo dục, dạy học sáng tạo nói chung, nhất là môn Ngữ văn luôn được đặt ra cấp thiết. Thực tế, những năm học qua, giáo viên của tỉnh và trên cả nước đã có nhiều nỗ lực trong đổi mới dạy học văn, khơi gợi sự sáng tạo của học sinh từ việc khai thác bài học, tổ chức các hình thức dạy học, ứng dụng phương pháp kỹ thuật dạy học mới, công nghệ thông tin, ra đề theo hướng mở… Học sinh cũng có những chuyển biến tích cực, chủ động, tích cực hơn, có những sáng tạo của cá nhân, thể hiện những điều mới mẻ mà bản thân tìm tòi được. Tuy vậy, do một số yếu tố tác động từ cơ sở vật chất, đội ngũ ….. nên việc dạy học sáng tạo trong môn Ngữ văn hầu như chỉ dừng lại ở một số tiết dạy thể nghiệm, thao giảng, hoặc là ở hình thức, kỹ thuật dạy học, hoặc chỉ ở bước đầu, cơ bản. Tôi xin chia sẻ vài quan niệm và kinh nghiệm của cá nhân về vấn đề này qua một số vấn đề căn bản.

1. Dạy học văn sáng tạo không chỉ là hình thức và kỹ thuật
            Trước hết, cần có một quan niệm khách quan, khoa học về sự sáng tạo trong dạy học Ngữ văn. Những kỹ thuật, phương pháp dạy học, hình thức hoạt động trong dạy học là cần thiết. Đó là sự đổi mới để giáo viên, học sinh tích cực hơn song chúng không phải bản chất của sáng tạo mà chỉ là các biểu hiện và biện pháp để thực thi sáng tạo. Sự sáng tạo trong dạy và học văn phải bắt đầu từ ý thức, tâm thức sâu xa, từ nhu cầu của người dạy, người học với việc tiếp cận, giảng dạy tác phẩm và thực hành kỹ năng văn.
            Sáng tạo là quá trình mỗi cá nhân đi tìm tòi, khám phá, thể hiện những điều mới mẻ, độc đáo, khác biệt trong cuộc sống, học tập, công việc. Những điều mới mẻ ấy không lặp lại những gì đã có hay của chính mình. Sản phẩm sáng tạo là sự biểu đạt của mỗi cái tôi và thứ mình nhận thức, làm ra bằng ngôn ngữ, phương tiện của mình. Sự sáng tạo luôn luôn khởi nguồn từ ý thức của cá nhân muốn khẳng định mình, biểu đạt sự khác biệt của mình. Những nhu cầu tự thân ấy khiến người dạy, người học tìm đến, lựa chọn sử dụng những phương tiện, hình thức, phương pháp nhất định để đi tới đích cuối cùng là tạo ra cái mới, hệ giá trị của bản thân.
            Cho nên, sáng tạo trong dạy học văn hay bất cứ lĩnh vực nào là việc làm của cá muốn đổi mới/ thay đổi mình và những gì đã có. Dạy học sáng tạo là đánh thức tiềm năng, nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, khám phá, tự do biểu đạt, khẳng định mình, thay đổi để không còn cũ mòn, sáo rỗng, nhàm chán. Sự sáng tạo luôn đòi hỏi cá nhân phải tự  ý thức và thành thực với chính bản thân, nhất là cái đã/ đang có và chưa có. Nó chỉ thực sự diễn ra khi có sự va chạm, đối lập, mâu thuẫn về ý thức hệ, về những giá trị của cái tôi với cái nó, của bản thân với cái khác, của cái cũ với cái mới. Vì vậy, sáng tạo trong dạy học văn hay bất cứ một bộ môn nào đều khởi đầu từ đặc trưng và mục đích của môn học.
2. Sáng tạo bắt nguồn từ đặc trưng bộ môn:
            Dạy văn là dạy cách đọc
            Môn Ngữ văn trong trường phổ thông được xác lập bởi hai đặc trưng cơ bản: 1/ là một học; 2/ là một loại hình nghệ thuật. Với tư cách là một môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, nó cần đảm bảo tính khoa học, logic, hướng tới việc hình thành những năng lực đặc thù trong nhận thức, thái độ và vận dụng vào cuộc sống; còn với tư cách là loại hình nghệ thuật, văn học là nghệ thuật ngôn từ biểu hiệu qua các giá trị: thẩm mĩ, giáo dục, nhận thức và giải trí. Mặt khác, nghệ thuật luôn gắn liền với sáng tạo của cá nhân, thể hiện một thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởng và giá trị riêng. Cho nên, dạy học văn ở phổ thông phải giải quyết hai nhiệm vụ, mục đích: hình thành những năng lực văn và dạy tiếp nhận văn học.
            Từ đặc trưng của bộ môn, việc dạy, học văn, sáng tạo văn học bắt đầu từ việc đọc, dạy cách đọc, sáng tạo trong tiếp nhận cho học sinh. Mà muốn dạy cách đọc cho học sinh thì bản thân giáo viên phải đọc, hình thành tư duy, phương pháp đọc phù hợp với từng thể loại văn học và các loại văn bản khác. Bản thân việc đọc, theo nhu cầu, tâm thế hoàn toàn tự do, bằng kinh nghiệm, kiến thức, tư duy của cá nhân tự mang trong đó mầm mống sáng tạo đầu tiên của việc dạy học văn. Đọc tác phẩm văn học luôn là sự khởi đầu của những cảm xúc, nhu cầu được khám phá, tìm hiểu, được giãi bày, đồng cảm, tri âm. Bởi bước vào thế giới của tác phẩm là quá trình khám phá những hệ giá trị được kiến tạo qua nhiều khoảng thời gian, không gian, ở nhiều thế hệ khác nhau. Nhu cầu tìm đến tác phẩm văn chương trước hết từ mỗi cá nhân, muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì thế, muốn sáng tạo trong dạy học văn, giáo viên cần làm sao để học sinh có nhu cầu đọc văn bản trong và ngoài sách giáo khoa. Việc hình thành thói quen đọc, xa hơn là văn hóa đọc đối với học sinh và giáo viên có ý nghĩa lớn lao, khởi nguồn cho cái biết, hiểu, những ý tưởng sáng tạo. Bởi đọc là cách để cập nhật cái mới, thấy cái cũ, cần thay đổi, và đọc là quá trình đồng sáng tạo.
            Những nguyên tắc nền tảng của việc đọc sáng tạo luôn là: một tâm thế hoàn toàn tự do, độc lập, không bị chi phối bởi những sự đọc trước, quy ước những gì đã; những trải nghiệm cá nhân, nền tảng tri thức, phông văn hóa có liên quan; luôn luôn bắt đầu từ văn bản, làm việc với các yếu tố trong văn bản sau mới đến các yếu tố bên ngoài; những điều hiểu, biết được bộc lộ, sẻ chia chân thành. Hoạt động đọc được tiến hành trong mối quan hệ tương tác với các cá nhân khác trên tinh thần lắng nghe, đối thoại, tìm ra những hạt nhân hợp lý, những điều thú vị để mỗi người chủ động thể hiện và hoàn thiện mình. Mỗi lần đọc văn là một lần khám phá ra khía cạnh mới, kích thích tư duy và cảm xúc, thấy được cái hay, cái đẹp trong sự đa dạng, phong phú và tự do của tinh thần. Bởi hình tượng văn học, văn bản văn học đa nghĩa, không bị giới hạn nào chi phối, không có đúng sai mà để hướng tới những chuẩn mực muôn thuở: chân, thiện, mỹ.
            Dạy văn là hình thành những năng lực văn
            Hiện nay có một quan niệm khá thực dụng trong dạy học là dạy để thi. Điểm thi là thước đo cho thành công của thầy và trò. Quan niệm này không hẳn sai nếu một kỳ thi tổ chức tốt, đề thi hay, đòi hỏi nhiều năng lực, sự sáng tạo, đánh giá được toàn diện học sinh. Khi đó học để thi cũng là hình thành, rèn luyện, phát triển các năng lực căn bản/ nâng cao cho học sinh. Tuy nhiên, khó có một đề thi nào có thể kiểm tra, đánh hết mọi năng lực của học sinh. Mặt khác, trong nhiều kỳ thi hiện nay, đề thi môn văn rất ít những câu hỏi yêu cầu vận dụng, nâng cao, tư duy sáng tạo, mà chủ yếu là tái hiện, là những gì có sẵn, dạy sẵn, đã hậu thuẫn, cổ xúy cho lối học vẹt, học thuộc khi giới hạn khung chương trình ít tác phẩm. Việc học là cả một quá trình, theo mỗi con người suốt cả cuộc đời với nhiều hệ tri thức khác nhau, theo nhu cầu từng giai đoạn, công việc trong cuộc đời. Vì thế, mục đích của dạy học văn hay bất cứ môn học nào, về lâu dài, để tạo ra những giá trị lớn, thành tựu xuất sắc không chỉ nhằm cho một/ vài kỳ thi.
            Dạy học văn trước hết là dạy các năng lực tư duy qua, bằng ngôn ngữ. Đó là những năng lực đọc hiểu, sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tạo lập văn bản. Sử dụng ngôn ngữ thành thục, sáng tạo, có một ngôn ngữ riêng của cá nhân cũng chính là một sự sáng tạo rất lớn. Cho nên, năng lực cảm thụ văn bản và diễn đạt được cái mình cảm là nền tảng đầu tiên cho những sáng tạo lớn, lâu dài hơn. Không dừng lại ở năng lực về ngôn ngữ, đọc hiểu, cảm thụ, văn học đòi hỏi những tư duy đặc trưng là bằng, qua hình tượng. Những tình cảm, cảm xúc trong văn học giúp con người tự nhận thức, điều chỉnh bản thân, hướng tới điều tốt đẹp, cao cả, chân thiện. Đọc văn yêu cầu và tác động rất nhiều đến khả năng quan sát, thể nghiệm, suy tư. Do đó, năng lực cao nhất mà môn ngữ văn cần hướng tới là sự thấu hiểu, sẻ chia, một cách tự thể hiện bản thân mình. Đó chính là khả năng tư duy độc lập, đưa ra những phương hướng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, giao tiếp, trong các mối quan hệ phức tạp của đời sống. Và từ những trang văn, những quan sát, trải nghiệm đời, cá nhân có quan niệm riêng, tinh thần phản biện, đối thoại, hình thức diễn đạt mình phù hợp, ấn tượng, mang bản sắc riêng, tức một diễn ngôn cá nhân.
            Dạy văn là tạo lập ý thức về hệ giá trị
            Việc hiện thực hóa mục đích tạo ra một diễn ngôn cá nhân với quan niệm, tư tưởng, cách biểu đạt riêng của quá trình dạy học văn chính là tạo lập nên hệ giá trị riêng gồm giá trị của cá nhân và giá trị của cộng đồng. Giá trị ấy được bắt đầu từ ý thức về giá trị tự thân như năng khiếu, sở trường, vốn tri thức tạo nên điểm mạnh trong hệ giá trị chung của cộng đồng. Nhận thức của cá nhân về bản thân và xã hội, đặc biệt là sự thành thực, dám đối diện với hạn chế, với mặt xấu, tiêu cực, với những khiếm khuyết là những điều căn bản để tạo cái mới, tạo giá trị riêng, phù hợp. Vì quá trình sáng tạo cái mới, kiến tạo giá trị luôn theo quy luật vừa kế thừa, phát huy những tinh hoa truyền thống vừa tìm tòi, phát hiện, tạo tác cái mới, cái khác. Đó là quá trình phủ định không ngừng, vừa giữ gìn, bảo lưu giá trị nội tại vừa học hỏi, tiếp biến các giá trị từ bên ngoài.
            Khi cá nhân ý thức được hệ giá trị của mình, họ sẽ luôn gìn giữ, vun đắp, phát triển những giá trị đó, nâng cao lên một tầm mới. Cá nhân sẽ có trách nhiệm, tự trọng. Điều đó là căn bản bậc nhất để tạo nên ý thức sáng tạo, không bắt chước, rập khuôn, không đạo văn hoặc minh họa đơn giản. Bởi sản phẩm chính là giá trị, là hình ảnh, gương mặt khác của bản thân. Lòng tự tôn cá nhân sẽ khiến mỗi người biết đến những giới hạn, để vượt qua đi đến cùng sự sáng tạo, hoặc biết dừng lại tránh rơi xuống hố sâu bảo thủ, cực đoan. Ý thức về bản sắc cá thể đem đến niềm tin, sự kiên định, theo đuổi đến cùng mục đích, lý tưởng, tạo ra giá trị lớn cho bản thân và cộng đồng, đưa đến những sáng tạo bước ngoặt, dù có thể ban đầu tất cả những mục tiêu, lý tưởng đó đi ngược lại đám đông, xa lạ, lạc lõng, thậm chí bị coi là những ảo tưởng, hay ý tưởng lập dị. Thực tế sáng tạo văn học nghệ thuật, cả phát minh khoa học của nhân loại đã minh chứn rất rõ cho điều đó. Và bắt đầu từ những giờ dạy ngữ văn, thầy và trò đều tự trọng, ý thức cao về giá trị bản thân, tất yếu họ sẽ tìm được những điều mới, cách thể hiện riêng, sự sáng tạo của chính mình, hình thành phong cách, lối tư duy độc đáo, độc lập, những đóng góp riêng của cá nhân.           
3. Xây dựng môi trường sáng tạo trong dạy học văn
            Dạy học bằng tinh thần dân chủ, đối thoại
            Con người luôn sống, hoạt động trong các mối quan hệ tương tác phong phú, phức tạp. Dạy học là công việc liên quan đến nhiều người. Ngay một giờ dạy cũng là sự tương tác của thầy – trò, của nhiều ý thức hệ, tư tưởng, những giá trị cá nhân khác nhau. Để phát huy khả năng sáng tạo, sự độc lập trong  tư duy thì cần một bầu không khí, môi trường tự do, dân chủ. Không nên coi giờ học là quá trình truyền thụ kiến thức và người thầy đầy quyền uy, ban phát cho học trò; còn học trò thì thụ động, là người ơn. Thực chất quá trình dạy học là quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin, chia sẻ tri thức, thể hiện diễn ngôn của mỗi cá nhân về cái mình đã biết, chưa biết, muốn biết, về cái mình thấy, mình cảm, tri nhận được, về những suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm của cá nhân. Sự tìm tòi, sáng tạo luôn bắt đầu từ những bộc lộ, sự biểu đạt chân thành, phong phú, vô tư, những ý tưởng mới manh nha, có khi khác thường.
            Muốn có một tinh thần như vậy giáo viên cần cởi mở, sẵn sàng bộc lộ, chia sẻ bản thân trước. Thứ nữa là khả năng lắng nghe, một tâm thế chấp nhận, tôn trọng những ý kiến trái chiều, những sự khác biệt. Bởi sự sáng tạo, cái nghĩ của mỗi người là vô cùng. Tự bản thân giáo viên xác định tâm thế học hỏi, tức mình không chỉ là người dạy mà còn là người học. Nguyên tắc công bằng, bình đẳng và đối thoại phải luôn luôn được thể hiện để mọi ý kiến đều được tôn trọng, mọi hệ giá trị đều được biểu đạt ở vị thế ngang nhau. Dạy học sáng tạo luôn cần tinh thần tự do, khai phóng và bao dung, xóa bỏ mọi định kiến, kỵ húy, những ranh rới, tạo nên những cuộc đối thoại đa thanh, khuyến khích những phản biện, hoài nghi, góc nhìn mới. Trước những sai lầm, cực đoan, ấu trĩ, không nên trách móc mà cần diễn giải, lý giải rõ ràng, thấu đáo.
            Muốn vậy, học sinh cũng cần được trang bị nền tảng tri thức tốt, những nguyên tắc và tinh thần biểu đạt văn minh, tôn trọng lẫn nhau bằng các khế ước trong môn học, giờ học. Việc hoàn thành những nhiệm vụ đọc, tự mở rộng tri thức, tâm thế khám phá rất quan trọng. Đặc biệt, ý thức về bản thân, sự chủ động, mạnh dạn thể hiện mình là điều rất cần thiết. Học sinh phổ thông luôn rất sống động, sôi động, chỉ cần tìm ra các vấn đề phù hợp, có những cách thức tiếp cận nhẹ nhàng, tạo điều kiện tốt để mỗi học sinh phát huy thế mạnh của mình sẽ có nhiều sáng tạo riêng, chẳng hạn có bạn đọc, có bạn thuyết trình, có bạn phê bình, có bạn diễn, có bạn phóng tác… Chính điều đó khuyến khích mỗi học sinh tìm cho mình một diễn ngôn riêng gắn với những xu hướng nghệ thuật mới mẻ, với cuộc sống đương đại.
            Sáng tạo đi từ những điều nhỏ, gắn với thực hành
            Quá trình sáng tạo cũng như tích lũy tri thức nên đi từ những điều nhỏ, bắt đầu là những ý tưởng, ý hiểu của cá nhân học sinh. Giáo viên cũng cần gợi mở từ những thứ gần gũi, đơn giản trở đi. Việc tích lũy thói quen quan sát, tìm tòi, khám phá, suy tư sẽ đưa đến những sáng tạo lớn, mang tầm vĩ mô, toàn vẹn. Vì thế, điều quan trọng là lắng nghe và khuyến khích mọi ý tưởng để tiếp tục điều chỉnh, gợi mở, định hướng học sinh đi xa hơn. Những ý tưởng có thể bắt đầu từ cái đã có, cải tiến, hoặc từ gợi mở của giáo viên. Vì thế mỗi việc làm sáng tạo của giáo viên: tìm ra các góc cạnh mới khi tiếp cận văn bản, trình bày một vấn đề độc đáo, cách tư duy riêng luôn tạo động lực cho học sinh sáng tạo.
            Mặt khác, sáng tạo cần gắn với thực hành đem đến các sản phẩm cụ thể. Cho nên, những vấn đề giáo viên nêu ra, các nhiệm vụ học tập giao phó, những đề kiểm tra cần được biên soạn một cách công phu, có tìm tòi, đặt ra các vấn đề mới, dùng ngữ liệu mới, khuyến khích học sinh tư duy, bộc lộ quan điểm riêng, trình bày bằng hình thức độc đáo. Có thể giao những dự án dài hạn, hướng học sinh đi theo con đường riêng, gắn với dự định nghề nghiệp sau này. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần đa dạng hóa hình thức kiểm tra, có thể cho vẽ tranh, chuyển thể, vẽ lược đồ tư duy, viết các bài thu hoạch, thuyết trình… về các chủ đề, vấn đề đã học. Việc đó sẽ phát huy được thế mạnh của mỗi học sinh trong cách tư duy về văn, khuyến khích được nhiều sự sáng tạo mới mẻ, sẽ có những sản phẩm tốt từ những gì các em cảm nhận, suy nghĩ, để tự thể hiện bản thân.
            Dù các phương tiện, kỹ thuật dạy học không nói lên bản chất sáng tạo nhưng là những công cụ hỗ trợ đắc lực trong các giờ dạy sáng tạo văn học. Những hình ảnh, sơ đồ, những thước phim, những đoạn trích kịch, cả giai điệu âm nhạc vừa có thể khơi gợi, tạo tâm thế và cảm hứng học tập tích cực, lại vừa là cách tích hợp trong dạy học. Ngôn ngữ nghe, nhìn sẽ hỗ trợ tốt nếu sử dụng hiệu quả theo hướng tích hợp, đi từ văn bản văn học đến chuyển thể, trình diễn, đặt văn học trong mối tương quan với các loại hình nghệ thuật có điểm tương đồng. Để từ đó, có thể không nhiều, nhưng có những học sinh sẽ tạo ra sản phẩm nghệ thuật mới sau khi học những tác phẩm quen thuộc, khai thác các góc cạnh khác, thể hiện cái nhìn và hệ giá trị cá nhân, mang mang tính thời sự.
            Những chia sẻ trên đây là kinh nghiệm và trải nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình học văn và dạy văn. Việc sáng tạo trong dạy văn, học văn, làm văn vẫn cần vai trò quyết định của người thầy, cùng sự hưởng ứng tích cực của học trò. Những vấn đề trong bài viết này vừa mang tính chất nguyên tắc, vừa là những gợi mở từ một số việc làm thực tế. Bởi sự sáng tạo trong văn học, cũng như mọi lĩnh vực luôn cần sự thôi thúc tự thân, ý thức về giá trị cá nhân, lòng trung thực và tự trọng để tạo ra sản phẩm của riêng mình, thể hiện bằng một diễn ngôn của cá thể trong bối cảnh chung của thời đại, sự vận động, phát triển của văn học nghệ thuật và đổi mới giáo dục.

                                            Tác giả: Tiến sĩ Ngô Thanh Hải
                                              Trường  THPT Lạng Giang số 2

Tác giả bài viết: Tiến sĩ Ngô Thanh Hải
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Mới nhất


Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vì sức khoẻ cộng đồng

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vì sức khoẻ cộng đồng

Thống kê

  • Đang truy cập: 0
  • Hôm nay: 3319
  • Tháng hiện tại: 99182
  • Tổng lượt truy cập: 10761259
Facebook Messenger